Cuộc thi viết truyện

Hàng rong

Có một thứ đặc thù làm nên văn hóa vỉa hè. Người ta gọi thứ ấy là hàng rong.

Hàng rong ở ta đi đâu cũng thấy. Hàng rong ít vốn, hợp túi tiền số đông, linh hoạt thích nghi mọi chốn…

Nhà bác tôi cũng bán hàng rong cả đời, xịa xôi thúng bắp hay mẹt bánh bèo khi chỗ này lúc chỗ kia, vậy mà nuôi sống cả gia đình! Nhà tôi cũng từng theo nghiệp ấy: loanh quanh phố lớn ngõ nhỏ với đôi quang gánh trên vai, í ới xướng tên đủ loại rau cải thực phẩm bình dân... Không phải hàng rong thì là gì.

Một dọc đường Lạch Tray ngày xưa có đủ thứ hàng rong, chả thiếu gì hết: Cà phê, bún, cháo... Thậm chí với một chiếc điện thoại bàn, người ta cũng làm thành cái buồng tủ nhỏ sơn chữ “cho thuê điện thoại”. Thời ấy, gọi một phút là mất một nghìn, còn nghe máy thì tốn năm trăm. Cái sự dùng chung tuy không tiện nhưng có vẫn còn hơn không, ai cũng cảm thấy hài lòng.

Nói cho công bằng, hàng rong xứ mình chụp giựt cũng có, bết bát bầy hầy cũng có, lừa đảo cũng có nốt. Có người, nhất là dân có tiền, hãi hàng rong loại này vì mất vệ sinh, phục vụ bặm trợn, lại rất đắt.

Nói đụng chạm, song cũng có lúc hàng rong ở những chốn phức tạp chỉ là vỏ ngụy trang, người ta không sống bằng bấy nhiêu thôi...

Thị trường mở cửa, kinh doanh phát đạt và tiến bộ nhiều, phương thức phục vụ tận tình chuyên nghiệp tận răng cơ hồ lấy nốt miếng cơm cuối cùng của người nghèo ít vốn thiếu kiến thức kỹ năng. Thu nhập một bộ phận người dân tăng, thà bỏ thêm chút tiền để mua hàng trong các siêu thị mát lạnh với nhân viên cười tươi lịch lãm hơn là xề xuống xịa bắp thau xôi đầu ngõ nghèo mà người bán mồ hôi nhễ nhại, lại đôi khi có tiếng chửi thề thường trực khó... kết nối.

Nghĩ đôi lúc cũng buồn, hội nhập sâu rộng, người nghèo càng ít cơ hội sinh tồn trong cuộc cạnh tranh tương quan chênh vênh quá. Đi đâu, về đâu những cô bác anh chị em vốn liếng nhàu nát cọc tiền lẻ - nghề nghiệp gần như con số 0?

Nhưng quả thực ông trời không “gí” ai vào đường cùng, hàng rong đúng nghĩa có khi ngày càng có giá hơn!

Quy luật: Đi tới càng xa con người ngoái nhìn lại càng nhiều hơn. Ở các đô thị càng lớn nhịp sống càng công nghiệp, nhu cầu quay về ngoái lại càng cao. Hàng rong đúng nghĩa chính là một trong những chỗ quay về để nương náu tinh thần, mua không chỉ để ăn, uống; mua để quay về… Đấy chính là một thuộc tính văn hóa. Có những cô bác anh chị em vẫn bán tốt, thậm chí còn đắt hàng và có giá hơn ngày trước vẫn chỉ với bây nhiêu hàng rong thôi...

Tôi không quên được gánh xôi của cô bán hàng gần trường Đại học Hàng Hải. Cô ấy tự nhiên chứ không sắp đặt bày vẽ gì, sáng sáng gánh xôi đến cổng trường, bên xôi bên bắp. Sinh viên và cả thầy cô cũng tự nhiên đến nhận từ tay cô những đĩa xôi đơm khéo, nóng và ngon miệng với giá bình dân. Xôi ngon sạch lắm, và cô hàng thì... đẹp! Dưới hàng phượng đỏ thắm, cô hàng ấy đồng hành cùng trường nọ theo thời gian khó phai… Bây giờ ghé trường ấy tiếc rằng không còn cảnh cũ, hàng rong chen chúc láo tháo, ánh nhìn không thân thiện…

Nhớ ở chợ Cố Đạo, cô bác anh chị em bán hàng rong tuyệt lắm. Những xịa cải thúng rau xanh tươi mơn mởn vì luôn tay tỉa tưới, quảy gánh hoặc dong bằng xe đạp dừng ở đầu ngõ, và người bán thì đàng hoàng lắm, năm trăm lẻ cũng thối đủ cùng nụ cười. Cũng là hàng rong thôi.

Có người Việt đi hải ngoại mấy chục năm nhắc quê hương vẫn nhớ hàng rong với kỷ niệm ngọt ngào ấm áp. Với họ, được nếm trải chút xíu hàng rong ngày nào - sẵn lòng bỏ ra nửa ví tiền chứ chẳng chơi!

Mưu sinh nghề nào cũng quý, sự cần lao chân chính đáng trân trọng. Bao nhiêu thân phận đổi đời cũng chính nhờ gánh hàng rong của mẹ của bà của anh chị em mình, bao nhiêu đại gia thành đạt xuất phát cũng từ gánh hàng rong…

Hàng rong có gì mà phải mặc cảm? Nếu biết tính toán kinh doanh hợp lý, lợi nhuận từ gánh hàng rong không hề ít. Và “lợi nhuận” khó cân đo về tinh thần nữa chứ?

Nguyễn Hào

a116
loading...

Tin cùng chuyên mục

loading...