Cuộc thi viết truyện

Ăn đêm ở Hà Nội

Ăn đêm ở Hà Nội là một cái thú xưa cũ. Chẳng phải bây giờ mới có, người Hà Nội tin rằng tiếng rao quà vặt nửa đêm cũng là một phần bản sắc của nơi phồn hoa đô hội này.

Cuộc sống phát triển, hàng quán nhiều hơn, ẩm thực đêm Hà Nội cũng dường như phong phú và giàu màu sắc. Trong khu phố cổ, phố ẩm thực là những hàng phở, cháo đêm, những món ăn đặc sản của Hà Nội... Và còn có những món quà đêm giản dị, rẻ tiền hơn do người bán rong cần mẫn đạp xe rao khắp ngõ phố.

Cũng không biết từ bao giờ, dạo phố ăn đêm đã trở thành thói quen của nhiều người Hà Nội. Mặc dù có khi đơn giản chỉ là bắp ngô hay củ khoai nướng. Ngày xưa, hồi mới lên Hà Nội đi học đại học, nghe tiếng rao quà đêm, bạn tôi cứ thắc mắc với bác chủ nhà: “Hình như có ai rao bán ngô, khoai nướng ngoài kia. Lạ thật, giờ này mà vẫn có hàng rong bán hàng à bác?” Câu hỏi của bạn tôi làm bác, một người đã gắn bó với Hà Nội gần cả đời người chợt bật cười, "Hà Nội mà cháu. Sáng thì có quà sáng nào phở, nào xôi, nào bún; chiều có quà chiều nào bánh giò, bánh cuốn; đến đêm lại có quà đêm, lúc nào chả có đồ ăn. Mà nghe nhiều thành quen ấy. Lắm hôm trời lạnh người ta không đi rao, tự dưng cứ thấy thiếu thiếu.”

Đúng là cứ đêm xuống là những thứ ăn vặt lại ra đường và trở thành một nét ẩm thực lạ của người Hà Nội. Khi màn đêm buông xuống. những xe ngô luộc, khoai nướng, sắn hấp dừa… lại được người bán mang khắp các phố phường. Buổi tối, người Hà Nội đi chơi, mua một bắp ngô, một củ khoai nóng ăn cho ấm lòng. Giữa lòng thành phố đông đúc, nhưng hàng rong ấy làm cho Hà Nội như bình dị hơn, khác với cuộc sống xô bồ vội vã của ban ngày.

Cũng không hẳn việc những người bán hàng ăn vặt rong ấy đã thổi thêm một chút hồn dân giã vào Hà Nội, bởi nó vốn tồn tại như thế từ lâu lắm rồi như một nét mặc nhiên thuộc về Hà Nội. Mỗi tối thấy tiếng rao của cô bán ngô, bán khoai, bác chủ nhà xởi lởi lại gọi vào mua một ít để mọi người ăn cùng. Hôm khác lại đổi món bằng chút xôi hay bánh khúc. Cả nhà quây quần vừa ăn, vừa xem ti vi, nói chuyện. Nhiều khi câu chuyện lại xoay quanh chính những thứ mình đang ăn, về người làm ra nó. Việc ấy thành quen đến mức lắm khi tôi tự hỏi, giả sử vào một đêm nào đó, Hà Nội không có những thức quà đêm sẽ thế nào?

Ấy thế mà Hà Nội cũng từng có thời gần như vắng bặt tiếng rao đêm. Bác chủ nhà trọ kể thời bác còn bé, Hà Nội khi ấy đang trải qua chiến sự ác liệt căng thẳng. Những đêm dài trong thời kỳ 12 ngày đêm máy bay Mỹ ném bom đánh phá miền Bắc, bật cái đèn pin còn phải cẩn thận vì sợ bị nghi là gián điệp bật đèn làm hiệu cho máy bay, làm gì có ai dám đi bán hàng đêm chứ. Cả Hà Nội may ra chỉ có quán phở Thìn ở phố Hàng Dầu là bán hàng. Thế mà hết chiến tranh, tiếng rao đêm quen thuộc lại trở về như chưa từng có giai đoạn ác liệt ấy diễn ra.

Cũng cần nói thêm là phở Thìn không nổi tiếng vì ngon. Khách nhớ ông Thìn là vì ông hàng phở pha trò nói vằn vèo hay như hát. Với cả cảnh ăn phở cũng khác thường. Nửa đêm, máy bay lao xuống ném bom cầu Long Biên, chỉ có hàng phở ông Thìn mở. Đôi khi báo động, khách phải bưng bát phở ra hố tránh bom mà ăn tiếp. Với lại, phở Thìn ngày xưa là phở gánh chứ không mở thành hàng quán như bây giờ. Hồi chưa lâu lắm, có vài đối tác từ Singapore sang Việt Nam công tác. Sếp tôi khi dẫn họ đi ăn đã đưa mấy người đến quán phở Thìn ở phố Lò Đúc (trụ sở công ty ở phố Lê Ngọc Hân, đi bộ chỉ năm phút là tới) và nhờ tôi giới thiệu đó là quán phở gia truyền lâu đời, ngon và nổi tiếng nhất nhì Hà Nội. Có lẽ cái chuyện thật về hàng phở Thìn giờ chỉ còn là ký ức của một lớp người xưa cũ, bởi ngày nay phở Thìn mà người ta biết là hàng phở ở phố Lò Đúc, lúc nào cũng đông khách đến thử cái thứ phở xanh ngắt một màu hành.

Đọc Chuyện cũ Hà Nội của Tô Hoài mà so sánh mới thấy tiếng rao đêm mỗi thời mỗi khác. Nếu như ngày xưa, tiếng rao toàn những thứ lạ tai nhưng quen mắt (do chủ yếu toàn người Hoa di cư đem bán) như lục tào sa (chè đậu xanh), phá sa (lạc rang), tỉm sắm bao (bánh bao), lồ mái phàn (xôi lạp xườn) thì nay, những món ấy đã có tên Việt hóa, gần gũi quen thuộc hơn rất nhiều.

Thông thường, người Hà Nội không lang thang quán xá khi tắt nắng để ăn no. Nói cách khác, đây không được coi là bữa chính mà chỉ là bữa phụ, bữa xế (tùy thời điểm) dùng để ăn chơi, để thỏa mãn chút nhạt miệng mà cũng để làm đủ đầy dư vị tinh tế của ẩm thực nơi họ sống. Chả cần nhìn đâu xa, cứ nhìn cách người Hà Nội ăn phở thời xưa thì biết. Ngày xưa phở không ăn để no mà chỉ là quà. Nhà văn Tô Hoài từng kể lại: “Bát phở vừa nước, vừa thịt, nếu nhiều bánh một chút, khách đảo đũa thấy nước dùng vơi đi đã phàn nàn phở chương rồi. Cái bát chiết yêu thót chôn, một bát còn thòm thèm thì gọi bát nữa. Bát phở phẳng mặt không đầy ú lên. Bây giờ thì bát phở nhất định phải cao có ngọn. Hàng phở đông khách không phải vì phở ngon, mà vì phở nhiều bánh.”

Thế nhưng giờ quà đêm cũng phải là thức để ăn cho no, cho đã cái bụng đói meo và cái miệng nhạt vị khô khốc vì phải thức muộn. Phở, cháo, mỳ, xôi… mấy thức ấy lúc nào cũng bán rất chạy, đặc biệt là vào mùa đông.

Bây giờ thời hiện đại, internet phổ cập đến từng nhà, nếu có đói thì chỉ cần inbox cho chủ quán là đồ ăn sẽ được đưa đến tận nhà. Thế nhưng đêm về, ai mà tinh ý vẫn sẽ thỉnh thoảng nghe được những tiếng rao: “Ai xôi nóng bánh giò bánh khúc nào!” từ đâu đó văng vẳng vọng về.

Nguyễn Hào

a116
loading...

Tin cùng chuyên mục

loading...